Showing posts with label Hue. Show all posts
Showing posts with label Hue. Show all posts

Tuesday, December 6, 2011

Complex of Hué Monuments

Complex of Hué Monuments

Brief Description

Established as the capital of unified Viet Nam in 1802, Hué was not only the political but also the cultural and religious centre under the Nguyen dynasty until 1945. The Perfume River winds its way through the Capital City, the Imperial City, the Forbidden Purple City and the Inner City, giving this unique feudal capital a setting of great natural beauty.
© B. Doucin & L. Lalaité More pictures ...

Long Description

Hué represents an outstanding demonstration of the power of the vanished Vietnamese feudal empire at its apogee in the early 19th century. The complex of monuments is an outstanding example of an eastern feudal capital and of the planning and construction of a complete defended capital city in a relatively short period. The integrity of town layout and building design make it an exceptional specimen of late feudal urban planning.
Hué served as the administrative centre of southern Vietnam in the 17th and 18th centuries. Gia Long, first ruler of the Nguyen dynasty, made it the national capital of united Vietnam in 1802, a position that it held until 1945. It was selected because it is situated in the geographical centre of the country and with easy access to the sea. The new capital was planned in accordance with ancient oriental philosophy in general and Vietnamese tradition in particular; it also respected the physical conditions of the site, especially the Perfume River and Ngu Binh Mountain (known as the Royal Screen). The relationship between the five cardinal points (centre, west, east, north, south), five natural elements (earth, metal, wood, water, fire), and five basic colours (yellow, white, blue, black, red) underlies the conception of the city, and is reflected in the names of some important features. The Perfume River, the main axis, divides the capital in two.
Four citadels or defended enclosures made up the city: Kinh Thanh (Capital City), for official administrative buildings; Hoang Thanh (Imperial City) for royal palaces and shrines; Tu Cam Thanh (Forbidden Purple City) for the royal residences; Dai Noi (or Inner City); and Tran Binh Dai, an additional defensive work in the north-east corner of the Capital City, designed to control movement on the river. A fifth fortress, Tran Hai Thanh, was constructed a little later to protect the capital against assault from the sea. Planning lasted from 1803 to 1805, and it was not until 1832 that construction was complete. The new capital was much larger than its predecessor, Dong Trang, and encompassed several villages as well. The fortress itself was modelled on the European style of Vauban, the first of its type in South-East Asia, but the complex suffered considerably as a result of military operations in 1885, 1947 and 1968.
The main enceinte, the Capital City, is square in plan, each side measuring 2,235 m. The defensive walls have six projecting bastions on each side and ten gates. The external defensive works comprise a berm, ditch, and glacis. The buildings inside the Capital City include various former ministerial buildings, the Royal College and the Hué Museum. The Inner City is rectangular in plan and defended by brick walls, supplemented by a moat and wide berm; there is a single entrance on each of the walls. Inside it is divided by walls into a number of zones - the Great Ceremonies Zone, the Worshipping Zone, the residential zone of the King's Mother and Grandmother, the storage and workshop zone, the garden and school zone for royal princes, as well as the Forbidden Purple City. The palaces within the Inner City are similar in style and design, set on a raised podium, with wooden trusses (usually ironwood), gilded and painted pillars and rafters, brick walls, and roofs of yellow- or blue-glazed cylindrical tiles. Roof edges are straight, and the decoration, both internally and externally, is abundant. Among the most important buildings are the Palace of Supreme Harmony, the royal reception hall; the Mieu Temple, the royal place of worship; the Queen Mother's Palace; and the Pavilion of Dazzling Benevolence.
At the heart of the complex is the Forbidden Purple City, surrounded by brick walls. There is a single gate in the front wall, reserved for the use of the king, and the other walls have several entrances, each with a specific purpose. Originally there were over 40 buildings within the walls, but most are now in ruins and only their foundations survive.
Outside the Capital City there are several associated monuments of importance. These include the tombs of the Nguyen dynasty to the south of the Perfume River. Other structures along both banks of the river are buildings related to the spiritual life of the dynasty, including the Temple of Literature, the Esplanade of the Sacrifice to the Sun and Earth, the Royal Arena and the Temple of the Roaring Elephant, and the Celestial Lady Pagoda.
Source: UNESCO/CLT/WHC

Historical Description

Hue served as the administrative centre of southern Vietnam (Dang Trong) in the 17th century and again in the 18th century. Gia Long, first ruler of the Nguyen dynasty, made it the national capital of united Vietnam in 1802, a position that it held until 1945. It was selected because it is situated in the geographical centre of the country and with easy access to the sea.
The new capital was planned in accordance with ancient oriental philosophy in general and Vietnamese tradition in particular; it also respected the physical conditions of the site, especially the Perfume River and Ngu Binh mountain (known as the Royal Screen). The relationship between the five cardinal points (centre, west, east, north, south), the five natural elements (earth, metal, wood, water, fire), and the five basic colours (yellow, white, blue, black, red) underlies the conception of the city, and is reflected in the names of a number of its most important features. The Perfume River is the main axis, dividing the capital into two.
The detailed planning was entrusted to Nguyen Van Yen, commander of an army unit specializing in the construction of citadels. Four citadels or defended enclosures made up the city Kinh Thanh (Capital City), for official administrative buildings; Hoang Thanh (Imperial City) for Royal palaces and shrines; Tu Cam Thanh (Forbidden Purple City) for the Royal residences (the two last-named are known collectively as the Dai Noi or Inner City); and Tran Binh Dai, an additional defensive work in the northeast corner of the Capital City, designed to control movement on the river. A fifth fortress, Tran Hai Thanh (Coastal Bastion), was constructed a little later to protect the capital against assault from the sea.
Planning lasted two years, from 1803 to 1805, and it was not until 1832 that construction was complete. The new capital was much larger than its predecessor, Dong Trang, and encompassed several villages as well. Over 30,000 workmen and soldiers were involved in the work, which involved filling in two small tributaries of the Perfume River and digging new moats and canals. The fortress itself was modelled on the European style of Vauban, the first of its type in southeast Asia.
The complex suffered considerably as a result of military operations in 1885, 1947, and 1968.
Source: Advisory Body Evaluation

Saturday, December 3, 2011

Bộ bách khoa Việt bằng đồng
“Cửu đỉnh quá xứng đáng bảo vật quốc gia bởi cả non sông đều được khắc trên đó”, PGS-TS Tống Trung Tín - Viện trưởng Viện Khảo cổ, hào hứng nói.

Chín chiếc đỉnh đồng trứ danh trong sân Thế Miếu, Hoàng thành Huế vốn được làm theo lệnh của vua Minh Mạng. Đúc cửu đỉnh chính là một trong những việc nhằm thể chế hóa bộ mặt Hoàng thành, củng cố nghiệp đế nhà Nguyễn, xây dựng chính quyền trung ương tập quyền mạnh.
Theo Đại Nam thực lục, vị vua nhà Nguyễn này đã nói về việc đúc cửu đỉnh như sau: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã trụ lại, thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu... Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng, nay muốn phỏng theo đời xưa: đúc 9 cái đỉnh để ở nhà Thế Miếu. Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, đời truyền đời sau”.
Cửu đỉnh với con số thiêng: 9, khẳng định nghiệp đế muôn năm bền vững. Vua Minh Mạng cũng muốn dành tên đỉnh làm miếu hiệu, tức tên đặt ra sau khi mất của hoàng đế. Chẳng hạn, Cao đỉnh ứng với Gia Long là Thế tổ Cao hoàng đế. Là một lịch đại đầy đủ. Cao đỉnh ứng với vị vua đầu tiên của triều Nguyễn được đặt chính giữa làm chuẩn. Các đỉnh tương ứng với các vị vua sau đặt theo nguyên tắc tỏa ra hai bên, trái trước, phải sau.

Cửu đỉnh trong sân Thế Miếu - Ảnh: Lưu Quang Phổ
Cũng lưu ý rằng, trong Thế Miếu xưa, chính quyền bảo hộ Pháp không cho phép thờ 3 vị vua nhà Nguyễn có tư tưởng chống Pháp là Hàm Nghi, Duy Tân, Thành Thái. Việc thờ cúng họ mới chỉ được đưa vào từ năm 1959. Con số cửu đỉnh cũng không đủ cho cả 13 vị vua nhà Nguyễn.
Về kích thước, bản thân vua Minh Mạng muốn có những chiếc đỉnh với kích cỡ giống nhau. Tuy nhiên, do nhiều nhóm thợ khác nhau làm thủ công nên đã dẫn đến việc không thể thống nhất kích thước và trọng lượng. Tuy có dung sai khá lớn nhưng các đỉnh vẫn tạo ra sự thống nhất trong tổng thể.
Chín chiếc đỉnh có một trật tự trang trí chặt chẽ trên mặt, được chia làm nhiều tầng. Mỗi tầng tương ứng với một đề tài. Tầng giữa được tập trung những hình quan trọng nhất với tên đỉnh làm trung tâm. Hai bên đỉnh là núi cao hùng vĩ, đối lại bên kia là biển cả hoặc cửa sông rộng mở. Những hình này đều có tên riêng, có thể coi như tập hình đồ phong cảnh đất nước. Trên đỉnh còn có những đề tài như cây to quý hiếm, chim đẹp quý hiếm, cây lương thực, cây hương vị, cây thiêng, phương tiện đi lại, thú vật, vũ khí chiến trận. Có thể xem những hình này như một bách khoa thư về đất nước bấy giờ, đúng như ý vua Minh Mạng: “Nay đúc đỉnh, khắc hình tượng sông núi và mọi vật cũng không cần phải khắc đủ cả, duy phải khắc rõ tên, hiệu và xứ sở để nhận biết”.
Kỹ thuật không kém châu Âu

Cửu đỉnh gồm: Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dũ đỉnh và Huyền đỉnh.
Các nhà nghiên cứu nhận định đây là một cụm tượng đài độc lập hoành tráng, là “bách khoa thư” về nước Việt Nam đầu thế kỷ 19, là công trình văn hóa lớn nhất, để đời của vua Minh Mạng.
Theo PGS Tín, các nghệ nhân đúc đồng ở phường đúc Dương Xuân (Huế) được cho là đã đúc nên cửu đỉnh. Họ cũng chính là những người đã đúc nên chuông và khánh đồng chùa Thiên Mụ, vạc đồng ở đại nội, cửu vị thần công. Dương Xuân là trung tâm đúc đồng duy nhất ở Huế và cả khu vực Đàng Trong lúc đó.
Mặc dù vậy, người ta cũng phải huy động thêm hàng trăm nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng làm việc trong suốt hơn một năm trời. Tạp chí Những người bạn của Huế xưa từng tính toán, trong việc nấu đồng có tới 20% cặn bã, mỗi lò chỉ có thể nấu được từ 30 - 40 kg. Muốn đúc được một chiếc đỉnh trong bộ cửu đỉnh phải dùng đến khoảng 60 lò. Quả là một công trường thủ công lớn.
Về kỹ thuật đúc đồng của cửu đỉnh, nhà nghiên cứu người Pháp P.Chovet nhận xét: “Nhìn chung toàn bộ giống hệt hình thu gọn hệ thống hiện đại của lò đúc sắt hiện nay ở Pháp (1914)... Cách làm của các thợ chạm An Nam không khác biệt với các phương pháp áp dụng của thợ chạm châu Âu. Có một chi tiết khá thú vị là các đũa và dao chạm đều do thợ tự làm bằng tay một cách thô sơ bằng cách dùng búa tán!”.
Ý thức biển trên cửu đỉnh
Ý thức biển của vua Minh Mạng được thể hiện rất rõ trên cửu đỉnh. “Các hải phận của nước ta đã được triều đình nhà Nguyễn bấy giờ quan tâm một cách đặc biệt. Hình ảnh biển Đông được thể hiện trên Cao đỉnh (Gia Long), biển Nam trên Nhân đỉnh (Minh Mạng) và biển Tây trên Chương đỉnh (Thiệu Trị) là ba cái đỉnh to cao nhất và quan trọng nhất, tượng trưng cho ba ông vua đầu tiên của triều đại”, nhà nghiên cứu Phan Thuận An đánh giá.
TS Phan Thanh Hải - Phó giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế, phân tích: “Chúng ta có thể thấy rõ trên Đông Hải, Nam Hải, Tây Hải, ngoài biểu tượng sóng nước mây trời là hình ảnh của những hòn đảo nhấp nhô. Chúng tôi tin rằng trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa, Phú Quốc - những hòn đảo đã được ghi nhận thuộc chủ quyền của người Việt Nam rõ ràng từ cách đây gần 200 năm”.
Ý thức biển của vua Minh Mạng cũng chính là ý thức biển của các vua triều Nguyễn. Ý thức này được kế thừa từ vua Gia Long - người có cuộc đời lẫy lừng trên biển.
Theo GS-TS Nguyễn Quang Ngọc - Viện trưởng Viện Việt Nam học: “Vua Gia Long chính là người đã sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoàng Sa theo truyền thống có từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên gần 2 thế kỷ trước. Ông còn tuyên bố về hoạt động chủ quyền của vương triều mình ở Hoàng Sa và Trường Sa mà không có bất cứ một quốc gia nào phản đối hay có ý định tranh giành với ông. Đây là một trong những trang đẹp nhất, rạng ngời nhất của lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, không chỉ riêng Việt Nam, mà cả thế giới đều biết”.
Hoạt động chủ quyền của vua Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa đã được người phương Tây vô cùng khâm phục và đặc biệt đề cao. Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) từng viết hồi ký xác nhận: “Vào năm 1816, nhà vua (vua Gia Long) đã long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc là sẽ không có một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”.
Ngô An

Saturday, October 8, 2011

HUE'S CAKES - BÁNH HUẾ

Bánh Đúc, Ram - ít, Ướt, Bèo
Bánh Gói, Nậm, Lọc, Ú, Xèo, Chưng here
They are delicious Hue's cakes
Dear friends,  please come in to enjoy...
__________
Bánh Đúc, Ram, Ít, Ướt, Bèo
Bánh Gói, Nậm, Lọc, Ú, Xèo, Chưng đây
Bánh Huế ngon ngất, ngon ngây
Mời anh, mời chị, mời thầy cô ăn...

<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Đúc


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Ram -ít


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Ướt


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Bèo


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Gói


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Nậm
<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Lọc


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Ú


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Xèo or Bánh Khoái


<><><><><><> <><><><><><> <><><><><><>
Bánh Chưng